JustPaste.it

Ngăn ngừa thiếu dinh dưỡng trong thai kỳ

1.000 ngày đầu đời (từ lúc trẻ được mang thai tới 24 tháng tuổi và thời điểm tuổi dậy thì) được Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) nhấn mạnh là thời điểm tuyệt vời phát triển chiều cao và thể chất. Thiếu dinh dưỡng càng sớm nhất là từ thời điểm bào thai sẽ gây nên hậu quả nghiêm trọng cho sức khỏe và quá trình phát triển của trẻ. Vậy phòng ngừa thiếu hụt dưỡng chất trong thai kỳ ra sao?

1. Hậu quả từ việc thiếu dưỡng chất trong thời kỳ mang thai
Thiếu hụt dưỡng chất trong khoảng thời gian có thai sẽ tác động rất lớn đến mô não, thần kinh và sẽ không bao giờ phục hồi hoàn toàn được. Hậu quả của việc thiếu hụt dưỡng chất trong thời kỳ mang thai sẽ tùy thuộc ở mỗi giai đoạn thai kỳ:
Giai đoạn sớm thai kỳ: có khả năng gây nên sảy thai.
Giai đoạn hình thành các bộ phận của cơ thể: có thể gây dị tật bẩm sinh.
Giai đoạn cuối thai kỳ: kém tăng trưởng bào thai khiến cho con sinh ra có cân nặng chưa đến 2500g.
Nếu hàm lượng đạm nạp vào quá ít trong suốt thai kỳ thì số lượng tế bào của mô thai nhi sẽ giảm, trẻ sinh ra sẽ nhẹ cân và chiều dài không ở mức tối đa theo tiềm năng di truyền cho phép.

Thiếu hụt chất đạm cực kỳ nghiêm trọng cho não bộ vì sẽ gây nên sự chậm phát triển không hồi phục.
Thiếu folate trong những tuần đầu thai kỳ sẽ gây ra dị tật ống thần kinh như nứt đốt sống và thiếu một phần não bẩm sinh. Ống thần kinh đóng không hoàn toàn là nguyên nhân dẫn đến bại liệt, não úng thuỷ... Ống thần kinh thường đóng lại vào khoảng ngày 24-28 của thai kỳ, đây là khoảng thời gian nhiều phụ nữ chưa nhận biết mình có thai vì vậy chế độ ăn chưa được điều chỉnh hợp lý.

Thiếu folate ở thời điểm cuối thai kỳ sẽ gây cho em bé chậm phát triển và bà bầu có thể mắc chứng thiếu máu hồng cầu to và những biến chứng trong thời kỳ mang thai như nhau bong non, xuất huyết.
Thiếu iốt trước và trong quá trình mang thai con sinh ra sẽ ngu ngơ, nếu thiếu nhẹ thì có thể dẫn đến chậm phát triển khả năng nhận thức & vận động của bé.
Tình trạng thiếu hụt vitamin A ở thai phụ sẽ dẫn đến sinh non, thai chậm phát triển và sơ sinh nhẹ cân.
Thiếu sắt ở mẹ có khả năng làm gia tăng rủi ro chết chu sinh ở trẻ, sanh non, hoặc trẻ sinh ra nhẹ cân, mẹ có thể bị băng huyết sau sinh, chậm hồi phục sức khỏe, suy giảm khả năng đề kháng.
Thiếu hụt kẽm ở bà bầu sẽ tác động tới chiều dài tiềm năng của trẻ.
Thiếu hụt vitamin D trong suốt thời kỳ mang thai sẽ gây ra rối loạn chuyển hoá canxi dẫn đến hạ canxi huyết, co giật vì thiếu hụt canxi, suy giảm sản sinh men răng của trẻ và chứng nhuyễn xương ở mẹ.
Bé sinh ra từ phụ nữ có chế độ ăn thiếu vitamin B12 sẽ có rủi ro cao bị kém tăng trưởng.   

2. Nhu cầu dưỡng chất cho thai phụ
2.1. Năng lượng
Quan niệm thai phụ phải dung nạp lượng thức ăn gấp đôi là không đúng do dung nạp thức ăn quá mức sẽ làm cho bà mẹ tăng cân vượt mức cần thiết.
Ở 3 tháng đầu thai kỳ, nhu cầu năng lượng tăng không quá nhiều. Vì vậy, ăn đa dạng và đầy đủ các dưỡng chất vẫn quan trọng hơn là ăn thật nhiều. Tuy nhiên, đối với phụ nữ trước khi mang thai bị suy dinh dưỡng thì sẽ cần tăng năng lượng ăn vào thấp nhất là 150 kcal, tương đương với tăng 1-2 bữa phụ như uống thêm 1 ly sữa, ăn thêm trái cây.
Ở 6 tháng sau thai kỳ, thai phụ cần gia tăng khoảng 300 kcal/ngày, tương đương ăn thêm 1 chén cơm cùng các loại thực phẩm, uống thêm 1-2 ly sữa, hoặc ăn 1-2 bữa phụ.

 

2.2. Chất đạm
Chất đạm từ chế độ dinh dưỡng của mẹ sẽ được chuyển đến bào thai để tổng hợp chất đạm của thai. Lượng đạm ăn vào của mẹ sẽ tác động tới chiều dài tiềm năng có thể đạt được của bào thai. Thai phụ cần bổ sung thêm lúc chưa mang thai khoảng 15g chất đạm hàng ngày (tức là phải thêm vào chế độ ăn hàng ngày khoảng 80-100 thịt hoặc cá, 2 cái trứng, hoặc 1 ly sữa và 1 miếng phô mai). Theo đó, mẹ bầu nên lựa chọn loại thực phẩm dồi dào đạm có giá trị sinh học cao như thịt, cá, trứng, sữa (hoặc các chế phẩm từ sữa), sản phẩm từ đậu nành... Thịt, cá, trứng còn là thực phẩm giàu chất sắt, kẽm, vitamin A. Sữa còn chứa lượng lớn canxi, photpho, vitamin A, vitamin nhóm B...

 

2.3 Canxi
Canxi từ mẹ được chuyển đến thai để hình thành xương và răng. Ở 6 tháng đầu, thai phụ tích trữ canxi trong xương. Một phụ nữ duy trì dưỡng chất tốt trước mang thai sẽ dự trữ trên 1000g canxi để sử dụng. Khi hệ xương em bé tăng trưởng làm nhu cầu canxi gia tăng cao trong 3 tháng cuối, thai nhi sẽ lấy canxi từ nơi dự trữ của thai phụ. Vì vậy, nếu bà mẹ không nhận đủ canxi từ thực phẩm thì sẽ có nguy cơ cao bị hư răng và loãng xương về sau này. Nhu cầu canxi của mẹ bầu là 1000mg/ngày.
Một số thực phẩm giàu canxi bà bầu có thể thêm vào chế độ dinh dưỡng mỗi ngày như: sữa, chế phẩm từ sữa, rau xanh, đậu nành, cá nhỏ ăn luôn xương, tôm tép ăn cả vỏ. 1 ly sữa 200ml tăng cường khoảng 240 mg canxi.

 

2.4. Sắt
Bà bầu cần lượng sắt rất lớn để chuyển đến thai nhi, hình thành bánh nhau, lượng máu của mẹ tăng thêm khi mang bầu, và bù đắp cho lượng sắt mất đi khi sinh nở. Tổng lượng sắt cần cho mẹ ở suốt thai kỳ là khoảng 840mg. Trên thực tế, phần lớn các bà mẹ khi mang thai đều không có đủ lượng sắt dự trữ cần thiết cho thai kỳ.
Sắt bên trong thịt (đặc biệt là thịt đỏ như thịt heo, thịt bò), cá, lòng đỏ trứng, rau xanh, đậu đỗ. Sắt từ thức ăn từ động vật sẽ dễ hấp thu hơn sắt từ nguồn thực vật. Tuy nhiên, nếu dùng thực phẩm dồi dào vitamin C cùng bữa ăn sẽ làm gia tăng hấp thu chất sắt nguồn gốc thực vật. Bên cạnh đó, trà, cà phê, ca cao sẽ ức chế hấp thu sắt nguồn gốc thực vật nên cần dùng cách xa bữa ăn.
Mặc dù mẹ bầu có thể ăn nhiều thức ăn giàu chất sắt tuy nhiên vẫn không thể đáp ứng nhu cầu chất sắt tăng rất lớn trong thai kỳ. Do đó , để bảo đảm đủ lượng sắt tích trữ cho mẹ, cung cấp đủ nhu cầu cho thai và phòng ngừa thiếu hụt sắt ở mẹ, Viện dinh dưỡng khuyến cáo thai phụ nên uống thêm viên sắt bổ sung với liều 60mg sắt nguyên tố cùng với 0,4mg acid folic hàng ngày từ khi phát hiện có thai đến ít nhất 1 tháng sau sinh.

Xem chi tiết: "Bỏ túi" ngay 10 thực phẩm bổ sung sắt cho mẹ bầu


2.5. I-ốt
Bà mẹ cần cung cấp đủ i-ốt trong thời kỳ mang thai để tạo hormone tuyến giáp hỗ trợ tăng trưởng hệ thần kinh trung ương của em bé. Iốt có thể được tăng cường cho cơ thể từ thực phẩm chế biến từ vật nuôi, cây trồng trên đất giàu iốt. Tuy nhiên, nước ta là vùng bị thiếu iốt do đó vật nuôi, cây trồng cũng đều bị thiếu. Vì thế, để ngăn ngừa thiếu hụt iốt một cách công hiệu thì thai phụ cần sử dụng muối iốt hàng ngày (nêm lạt) trong ăn uống và chế biến thực phẩm.

 

2.6. Kẽm
Bà bầu cần khoảng 15 mg kẽm từ chế độ dinh dưỡng hàng ngày. Thiếu hụt kẽm hay diễn ra ở những bà mẹ có chế độ ăn chủ yếu là ngũ cốc, ít thức ăn nguồn gốc động vật, nhiều chất ức chế hấp thu kẽm (phytate có trong thực phẩm nguồn gốc thực vật), hoặc bà mẹ bị bệnh đường tiêu hoá (viêm tá tràng, hỗng hồi tràng, giảm tiết dịch vị) tác động lên hấp thu kẽm hoặc đa thai. Vì thế, các bà mẹ này cần được bổ sung kẽm.
Kẽm có nhiều trong thực phẩm nguồn gốc động vật, có rất ít trong thức ăn từ thực vật (trừ mầm của các loại hạt).


2.7. Vitamin A
Chế độ dinh dưỡng của bà mẹ cần có thực phẩm giàu tiền sinh tố A (rau xanh đậm, củ quả vàng cam đậm) và vitamin A (thịt, cá, trứng, sữa). Cần vô cùng cẩn trọng khi sử dụng thuốc có chứa vitamin A cho bà mẹ mang thai do vitamin A liều cao có thể khiến dị tật ở thai nhi. Vitamin A cung cấp từ thực phẩm thường sẽ an toàn hơn và không đến mức gây hại. Mặc dù vậy, bà mẹ mang thai không nên ăn quá nhiều gan do gan có rất nhiều vitamin A.

 

2.8. Vitamin D
Vitamin D rất cần thiết để gia tăng hấp thu canxi vào cơ thể. Bà mẹ cần thường xuyên ra ánh nắng mặt trời (buổi sáng sớm hoặc chiều muộn) để da được tiếp xúc ánh nắng giúp chuyển tiền vitamin D dưới da thành vitamin D. Đối với những bà mẹ không tiếp xúc ánh nắng trong suốt thai kỳ thì cần được tăng cường vitamin D. Tuy nhiên, không nên dùng liều cao vitamin D trong suốt thai kỳ.


2.9. Folate và vitamin B12
Folate cần thiết để tạo ống thần kinh của em bé trong những tuần đầu thai kỳ, giai đoạn sau folate cần cho quá trình phân bào, phát triển và hình thành hồng cầu. Nhu cầu folate trong suốt thai kỳ là 400μg/ngày. Cung cấp đủ folate vô cùng quan trọng đối với bà bầu nhiều lần, thiếu máu mãn tính hoặc sử dụng thuốc chống co giật.
Điều khác biệt so với những chất dinh dưỡng khác là hiệu quả hấp thu folate giảm và bài tiết lại gia tăng trong thời kỳ mang thai. Đây là tác nhân quan trọng khiến cho thiếu hụt folate trong thai kỳ trở nên là vấn đề quan trọng đáng quan tâm.
Có thể tăng folate trong khẩu phần bằng cách: chọn ăn thức ăn giàu folate (mầm lúa mì, gan, thận, đậu đỗ, những loại hạt, rau xanh, hoa quả đặc biệt là cam, dâu tây, lê, dưa hấu), ăn thức ăn tăng cường folate, hoặc bổ sung acid folic dưới dạng thuốc. Thế nhưng, nếu chỉ ăn thực phẩm giàu folate sẽ rất khó đạt được nhu cầu. Do đó, bên cạnh chế độ ăn thực phẩm có nhiều folate thì bà bầu cần được bổ sung khoảng 0,4mg acid folic mỗi ngày bằng thực phẩm được bổ sung acid folic hoặc thuốc bổ có acid folic.
Vitamin B12 cũng cần thiết cho quá trình phân bào và tạo hồng cầu. Với những phụ nữ mang thai ăn chay trường rất cần được bổ sung vitamin B12, vì đây là một loại vitamin chỉ có ở thức ăn từ động vật.

 

2.10. Nước
Bà mẹ mang thai cần uống tối thiểu khoảng khoảng 2 lít nước hàng ngày để đủ nước cho tiêu hoá, hấp thu, chuyển hóa các chất dinh dưỡng, đào thải những sản phẩm chuyển hoá không cần thiết cho cơ thể, và cũng để tránh táo bón. Bên cạnh nước chín, bà bầu nên chọn các loại thức uống tăng cường chất dinh dưỡng cần cho cơ thể để đạt nhu cầu khuyến nghị (nước trái cây tươi, sữa...).


2.11. Thuốc bổ
Những thai phụ có chế độ ăn không đủ nhu cầu dinh dưỡng (như kém dung nạp lactose, ăn chay, ăn kiêng, hoặc đa thai) thì cần được bổ sung thuốc bổ đa sinh tố hay khoáng chất để làm giảm giảm thiểu rủi ro khiếm khuyết phát triển não bộ, cải thiện chức năng miễn dịch.

 

3. Chế độ dinh dưỡng dành cho phụ nữ mang thai được khuyến nghị
Để đảm bảo sức khỏe của mẹ cũng như giúp em bé tăng trưởng khỏe mạnh thì thai phụ cần có chế độ dinh dưỡng như sau:
Ăn đa dạng các loại thực phẩm.
Nên ăn nhiều bữa để đạt nhu cầu dinh dưỡng.
Để đạt nhu cầu năng lượng, mỗi bữa nên ăn thêm 1 chén cơm (cùng với thức ăn) so với khi chưa có thai.
Nhóm bột đường: gạo, nếp, mì, khoai... Nên chọn gạo tốt, không xát kỹ vì sẽ mất vitamin B1. Những loại khoai củ có ít chất đạm nên chỉ ăn thêm chứ không ăn thay bữa chính.
Thức ăn giàu đạm như thịt, cá, tôm, cua, trứng, sữa và những loại đậu, cụ thể thịt cá: 120-150g mỗi ngày. Một tuần nên ăn 2-4 lần thịt, khoảng 3 lần cá, hạn chế ăn gan. Trứng: 2-3 quả trứng mỗi tuần. Sữa: 2-4 ly mỗi ngày (ly 200ml), có thể thay bằng phô mai, yaourt. Không nên dùng nhiều sữa, yaourt quá ngọt vì lượng đường quá nhiều sẽ không tốt.
Chất béo: nên sử dụng dầu thực vật và chỉ ăn vừa phải.

Nên dùng nhiều rau và hoa quả tươi mỗi ngày, nhất là rau lá xanh đậm và củ quả vàng cam đậm. Khoảng 300g rau (tương đương 3 chén rau chín) và 2-3 phần hoa quả hàng ngày (1 phần trái cây tương đương 1 trái chuối, 1 trái cam cỡ vừa, 1 miếng đu đủ...)
Chất ngọt cũng chỉ ăn vừa đủ. Ăn nhiều thức ăn ngọt sẽ khiến thai phụ tăng cân nhiều nhưng vẫn có thể bị thiếu những dưỡng chất cần thiết như chất đạm và các vi chất.
Dùng muối iốt trong ăn uống và chế biến thực phẩm (nêm lạt).
Uống nhiều nước (1,5- 2 lít nước mỗi ngày).
Giảm thiểu tối đa thức uống có cồn (rượu, bia).
Caffeine qua nhau có thể làm tăng nhịp tim và nhịp thở của em bé. Caffeine có trong cà phê, các loại trà, nước ngọt có gaz, nước tăng lực, cacao... Bà bầu không nên uống quá 2 ly cà phê mỗi ngày.
Không hút thuốc lá (kể cả hít khói thuốc lá từ môi trường xung quanh): nicotine từ khói thuốc lá sẽ vào hệ tuần hoàn của mẹ, qua nhau thai làm ảnh hưởng đến cung cấp oxy cho em bé.

 

4. Những trường hợp đặc biệt
4.1 Nôn ói
Thường xảy ra ở các tháng đầu thai kỳ. Nếu nặng sẽ dẫn đến thiếu chất đạm và năng lượng, chất khoáng, vitamin và điện giải. Khi đó cần chia nhỏ bữa ăn, chế độ ăn nên ít béo, ít gia vị và nhiều chất bột đường. Không nên uống nhiều cùng với bữa ăn. Nếu tình trạng này kéo dài thì cần nhập viện để được truyền dịch để tránh mất nước và điện giải.


4.2. Nóng rát ngực
Thường ở giai đoạn sau của thai kỳ vì tử cung to gây áp lực lên dạ dày cùng với sự nới lỏng cơ vòng thực quản do đó dịch tiêu hoá dễ trào lên thực quản làm nóng rát. Hiện tượng này sẽ giảm bằng cách ăn ít mỗi bữa, tăng số bữa ăn và không nên nằm ngay sau khi ăn. Tránh thức ăn béo, cà phê và nước uống có gas.

 

4.3. Táo bón và bệnh trĩ
Thường trong giai đoạn cuối thai kỳ vì giảm nhu động ruột, ít hoạt động thể lực và do tử cung to đè lên đại tràng. Các chứng này có thể giảm thiểu khi bà mẹ mang thai ăn nhiều thực phẩm dồi dào chất xơ như ngũ cốc không xát kỹ, rau và trái cây, uống nhiều nước. Nên uống 1 ly nước khi thức dậy vào buổi sáng.

 

4.4 Ngộ độc thực phẩm
Thỉnh thoảng tình trạng ngộ độc thực phẩm xảy ra tác động nghiêm trọng đến em bé. Bà mẹ có thể ngăn ngừa bằng cách chú ý vệ sinh ăn uống, rửa kỹ rau quả, gọt vỏ trước khi ăn, rửa tay kỹ, sử dụng nước chín, tránh ăn thức ăn chưa nấu chín (thịt tái, gỏi cá sống, trứng lòng đào hoặc trứng sống, hải sản nướng...), tránh xa vật nuôi như chó mèo vì có thể nhiễm giun sán từ những thú cưng này.


4.5 Đái tháo đường thai kỳ
Đái tháo đường thai kỳ phần lớn xuất hiện sau 20 tuần và thường tự khỏi sau khi sinh. Bà bầu cần ăn đủ nhu cầu, theo dõi đường huyết thường xuyên, giữ mức đường trong máu ổn định, ngăn ngừa tình trạng cạn kiệt nguồn dinh dưỡng tích trữ. Thành phần những chất đạm : béo : chất bột đường trong chế độ ăn nên cân bằng ở mức 15 : 30 : 55% năng lượng.

 

4.6. Tăng huyết áp thai kỳ
Tăng huyết áp thai kỳ là một hội chứng bao gồm tăng huyết áp, đạm niệu, và phù nề. Xảy ra khoảng 7-8% thai kỳ và thường ở 3 tháng cuối thai kỳ. Tình trạng này làm giảm lượng máu đến tử cung dẫn đến thai bị kém nuôi dưỡng. Bà bầu cần được theo dõi sức khỏe thường xuyên để đảm bảo an toàn cho mẹ và thai.

 

Nguồn tham khảo:
https://www.friso.com.vn/kinh-nghiem-hay/hien-tuong-chung-to-me-bau-thieu-dinh-duong-trong-thai-ky