JustPaste.it

Vật liệu che tủy trực tiếp trong nội nha

một số nguyên vật liệu đã được đề xuất sử dụng trong những công việc che tủy quan trọng. Điều thu hút là mặt khác chưa tồn tại loại nguyên liệu nào được các nhà thực hành lâm sàng yêu thích tuyệt đối hoàn hảo .

 

Trong một cuộc điều tra trong các số đó những người hành nghề tư nhân được đặt câu hỏi chúng ta lạm dụng vật liệu che tủy nào, các người được đặt ra những câu hỏi đã liệt kê bốn loại nguyên vật liệu khác nhau , không tồn tại nguyên liệu nào đc chủ yếu quý khách ưa thích.

 

Phần này sẽ xem xét các minh chứng về tiện ích & điểm yếu của Top 5 loại vật liệu che tủy mật thiết trong nha sĩ khác nhau đã đc lạm dụng quá để che tủy trực tiếp .

 

1. Che tủy trực tiếp Zinc Oxide Eugenol (ZOE)

 

công dụng của Zinc Oxide Eugenol

 

Công thức Zinc Oxide Eugenol (ZOE) đã đc sử dụng quá trong nha sĩ trong không ít năm làm nền, lớp lót, xi măng và nguyên liệu tái khôi phục rối loạn .

 

Eugenol Prevest Denpro

 

điểm yếu của Zinc Oxide Eugenol

 

dẫu thế , việc lạm dụng nó để che tủy quan trọng không bị mất nhiều ngờ vực . Eugenol rất độc các tế bào .

 

đc biết rằng ZOE giải phóng eugenol ở nồng độ mà thậm chí gây độc tế bào . ZOE cũng cho biết thêm sự rò rỉ cao.

 

dù rằng người ta đã chú ý rằng sự rò rỉ này không mật thiết vì ZOE có thể hỗ trợ thời gian làm việc bít bí hiểm sinh học, cần ghi chú rằng giải phóng eugenol giảm đột ngột theo số giờ, và kinh nghiệm của ZOE trong những việc tiêu diệt vi khuẩn sẽ tiêu giảm khi nó xuất hiện càng lâu trong miệng.

 

đánh giá này chỉ đưa ra một nghiên cứu và phân tích lâm sàng bên trên quý khách ZOE làm chất che tủy quan trọng.

 

Trong nghiên cứu và phân tích này, tất cả các răng được che tủy bằng ZOE đều phải sở hữu dấu hiệu viêm khó chữa , không chữa lành tủy & không hình thành cầu ngà sau 12 tuần sau triển khai thủ thuật.

 

Ngược lại , tất cả những răng đối chứng đc che tủy bằng canxi hydroxit cho thấy thêm sự lành thương trong vòng bốn tuần.

 

bài viết liên quan những sản phẩm che tủy trực tiếp có chứa Zinc Oxide Eugenol

 

2. Glass Ionomer (GI) / Glass Ionomer Resin-Modifed (RMGI)

 

Glass Ionomer dù rằng không gây độc tế bào như ZOE, GI / RMGI cũng gây độc các tế bào khi giao tiếp quan trọng với các tế bào . Các công thức bình thường có Xu thế ít độc hơn đối với các công thức đc biến đổi từ nhựa resin.

 

Cement trám Glass Ionomer FX Ultra

 

tác dụng Glass Ionomer Resin-Modifed (RMGI)

 

điều này đừng nên được hiểu là 1 minh chứng chống lại việc sử dụng quá GI / RMGI trong số xoang sâu. Do khả năng links hóa học của glass ionomer với cấu trúc răng, nó có thể ngăn ngừa sự khuếch tán của các nguyên liệu ô nhiễm và độc hại tiềm ẩn qua ngà răng đến tủy răng.

 

Glass ionomer cũng hỗ trợ một lớp niêm phong vi khuẩn tuyệt vời và cho thấy thêm khả năng tương đồng sinh học xuất sắc lúc đc lạm dụng gần nhưng không tiếp xúc trực tiếp với tủy răng.

 

y hệt như với ZOE, đánh giá này chỉ tìm ra một phân tích trên người về sự che tủy quan trọng bằng glass ionomer — trong trường hợp này — RMGI.

 

điểm yếu kém của Glass Ionomer Resin-Modifed

 

Che tủy răng mật thiết với RMGI cho biết thêm tình trạng viêm mãn tính & thiếu sự biến thành cầu ngà răng lên đến 300 ngày sau khoản thời gian đóng tủy răng, còn mặt khác đó, các nhóm chứng lạm dụng canxi hydroxit cho biết khả năng lành vết thương xuất sắc hơn đáng chú ý .

 

3. Tác dụng & điểm yếu khối hệ thống kết dính

 

khối hệ thống kết dính đã được lời khuyên lạm dụng quá như một chất che tủy quan trọng phương châm từ khoảng 12–15 năm kia phía trên . Cũng như hai chất che tủy trên , toàn bộ các bộ phận của khối hệ thống kết dính đã đc chứng tỏ là gây độc tế bào đối với các tế bào tủy răng.

 

ảnh hưởng ô nhiễm và độc hại của những phần tử không giống nhau của chất kết dính có công dụng hiệp đồng, nhất là lúc khoảng thời gian tiếp xúc với tủy răng dai dẳng .

 

Độc tính được thấy ở cả hệ thống kết dính đa thành phần & một bộ phận , và những cơ quan không được trùng hợp sẽ độc hơn khi chất kết dính được polyme hóa xuất sắc .

 

Mối lưu ý đến việc sử dụng quá chất kết dính để che tủy, ít nhất 1 phần , bởi bản chất là một số trong những nghiên cứu và phân tích không thuộc loài linh trưởng đã phát hiện ra rằng việc giao tiếp với tủy răng bị giới hạn bởi chất kết dính nói chung dẫn theo việc chữa lành tủy.

 

so sánh canxi hydroxit với khối hệ thống kết dính

 

những công dụng này không được tán thành , vì Một trong những nghiên cứu và phân tích không thuộc linh trưởng cho biết kinh nghiệm lành vết thương kém hơn sau khoản thời gian che tủy bằng chất kết dính đối với canxi hydroxit.

 

một số trong những phân tích về trường hợp lộ tủy cơ học, không bị nhiễm trùng, đc che phủ bởi khối hệ thống chất kết dính nói tóm lại kéo theo chữa lành thương tương đương với canxi hydroxit.

 

mặc dù vậy , công dụng này thay đổi khi công dụng được kiểm định từ các phân tích về sự việc lộ tủy cơ học, bị nhiễm vi khuẩn ở động vật linh trưởng.

 

cơ chế thí điểm này đc lựa chọn để tương tự với trường hợp có thể chạm mặt phải nếu tủy răng tiếp xúc với đau răng hoặc không tồn tại đê cao su đặc tại chỗ. Những chỗ đứng phơi nhiễm bị nhiễm vi khuẩn , công dụng của chất kết dính trong những việc chữa lành tủy kém hơn so với canxi hydroxit.

 

khi hiệu quả của các nghiên cứu và phân tích về tủy răng trên người được coi xét, các tóm lại trở nên rất khác đối với những gì đã đc suy luận từ các nghiên cứu trên động vật.

 

Bảng 1 Tóm tắt một số trong những phân tích trên người đối chiếu việc che tủy bằng canxi hydroxit với chất kết dính.

 

giữa những nghiên cứu đc trích dẫn trong Bảng 1, canxi hydroxit đã nâng cấp đáng chú ý việc thay thế tủy đối với khối hệ thống kết dính, bất cứ đó là hệ thống dán total-etch hay self-etch.

 

so sánh tác dụng nghiên cứu trên người về che tủy mật thiết đối chiếu canxi hydroxit với hệ thống kết dính

 

So sánh canxi hydroxit với hệ thống kết dính

 

Bảng 1: so sánh việc che tủy bằng canxi hydroxit với chất kết dính.

 

nguyên liệu che tủy đc hiển thị trong cột "Kết quả" diễn đạt hiệu suất tốt hơn đáng chú ý của canxi hydroxit trong mọi tình huống .

 

Histo trong bảng 1

 

“Histo” đề cập đến việc nghiên cứu và phân tích mô học có đc thực hiện như 1 phần của đánh giá công dụng hay không.

 

có 1 số trình bày khả thi cho những công dụng kém này trong những nghiên cứu và phân tích trên người. Trước nhất là những ảnh hưởng gây độc tế bào trực tiếp mà chất kết dính gây nên so với tế bào tủy răng.

 

công dụng bao trùm kém này mà thậm chí do một hoặc nhiều vì sao. Các thành phần etch và primer của keo dán là chất giãn mạch, thậm chí làm tăng trưởng ra máu làm nhiễm bẩn ngà răng sát bên và làm giảm độ bám dính.

 

độ ẩm ướt tăng lên tại vị trí lộ tủy làm giảm sự trùng hợp của chất kết dính. Điều đó có tác động vô ích kép là làm công việc giảm độ kết dính & tăng tính khả dụng của chất không trùng hợp, & do đấy các phần tử ô nhiễm và độc hại hơn của chất kết dính.

 

sau cùng, các bộ phận nhựa làm giảm phản ứng miễn dịch của tủy răng, khiến cho tủy răng ít có khả năng tự bảo vệ chống lại sự nhiễm vi khuẩn.

 

tóm lại

 

các bắt gặp này đã đc chứng thực trong một đánh giá về sự việc che tủy với chất kết dính, trong số ấy de Souza Costa & tập sự đã Tóm lại như sau:

 

  • Chất kết dính kéo theo việc chữa lành tủy răng kém hơn;
  • Chất kết dính dẫn đến chứng trạng viêm khó chữa, ngay cả khi không tồn tại vi khuẩn;
  • Viêm là một trong những môi trường bất lợi để chữa lành tủy; tủy răng bị viêm do sâu răng sẽ bớt kinh nghiệm chữa lành.

 

4. Canxi Hydroxit

 

Canxi hydroxit đc chào làng vào ngành các nha sĩ vào năm 1921 và đã được coi là “tiêu chuẩn vàng” của nguyên vật liệu che tủy trực tiếp trong vài thập kỷ. Có một số ưu điểm nổi bật của canxi hydroxit đã làm cho nó nhận đc sự công nhận này.

 

calcium hydroxide Prevest DenPro

 

tác dụng Canxi Hydroxit

 

Canxi hydroxit có đặc tính kháng khuẩn tuyệt hảo. Một nghiên cứu và phân tích cho thấy giảm 100% những con vi khuẩn liên quan đến nhiễm trùng tủy răng sau đó 1 giờ tiếp xúc với canxi hydroxit.

 

quan trọng nhất, canxi hydroxit đã đc quan sát và theo dõi lâu hơn về thắng lợi lâm sàng như một chất che tủy trực tiếp trong thời gian lên đến 10 năm.

 

mặc dầu tỷ lệ chiến thắng giảm đã đc đưa ra trong những nghiên cứu , trong những số ấy sinh viên nha sĩ là kẻ thực hành.

 

điểm yếu kém Canxi Hydroxit

 

Canxi hydroxit cũng đều có một số trong những nhược điểm . Các công thức tự trùng hợp có tính hòa tan cao và thậm chí bị hòa tan theo số giờ , dù rằng người ta đã lưu ý rằng, theo số giờ canxi hydroxit bị mất đi do hòa tan thời điểm đó cầu ngà đã đc biến thành .

 

Canxi hydroxit không có chất kết dính vốn có và là 1 trong những miếng trám kém. Một có hại khác được ghi nhận về canxi hydroxit là sự tồn tại của cái có tên thường gọi là "khiếm khuyết đường hầm" trong ngà răng đối chiếu được biến thành dưới tủy răng đc che bởi canxi hydroxit.

 

Một khiếm khuyết đường hầm đc diễn đạt như một vết nứt từ vị thế lộ tủy qua lớp ngà tới tủy răng, thỉnh thoảng có sự hiện diện của nguyên bào sợi và mao mạch.

 

dẫu thế , những nhà nghiên cứu khác đã bắt gặp ra rằng unique của ngà răng đối chiếu đc cải thiện lúc cầu răng dày hơn, và nhiều đợt, các khiếm khuyết đường hầm không liên quan đến tủy răng.

 

Có vẻ giống như các khiếm khuyết đường hầm không phải là bắt gặp phổ biến trong số nghiên cứu trên người liên quan đến việc che tủy mật thiết bằng canxi hydroxit.

 

Có ít nghiên cứu và phân tích chú ý quan sát những khiếm khuyết đường hầm và nhiều nghiên cứu và phân tích không quan sát những khiếm khuyết đường hầm.

 

các tác dụng mật thiết của Canxi hydroxit

 

Canxi hydroxit đc cho rằng có khả năng sửa chữa thay thế tủy răng bằng một hoặc nhiều chế độ vận động .

 

Canxi hydroxit có đặc tính chống khuẩn, & điều ấy mà thậm chí hạn chế và giảm thiểu hoặc vứt bỏ sự xâm nhập của những con vi sinh vật vào tủy răng.

 

Theo cổ điển , người ta tin rằng độ pH cao của canxi hydroxit gây kích động mô tủy, kích ứng quá trình sửa chữa thông qua một trong những chính sách chưa đc nghe đến.

 

Một trong những năm cách đây không lâu , “cơ chế chưa biết” này thậm chí đc giải thích bằng cách giải phóng các phân tử hoạt tính sinh học.

 

Người ta đã biết rằng nhiều dạng khác nhau protein đc kết hợp vào chất nền ngà răng trong tiến trình tạo mầm.

 

đặc biệt quan trọng so với chủ đề che tủy là ít nhất hai trong số những protein này, Protein hình thái xương (BMP) và nhân tố tăng trưởng biến đổi-Beta One (TBF-β1), đã minh chứng thời gian làm việc kích thích chữa lành tủy răng.

 

bên cạnh đó , canxi hydroxit được biết là có khả năng hòa tan những protein này khỏi ngà răng, cho thấy sự lòng tin vào việc giải phóng các phân tử hoạt tính sinh học này như một chất trung gian mật thiết trong những việc sửa chữa tủy răng sau thời điểm đóng tủy răng.

 

Tổng quan dòng sản phẩm che tủy quan trọng có chứa Canxi hydroxit

 

Calcium Hydroxide Dharma

 

Calcium hydroxide Dharma

 

Che tuy Dycal - Dentsply

 

Che tủy Dycal - Dentsply

 

Che tuy chieu den Ultra Blend

 

Che tủy chiếu đèn Ultra Blend

 

tất cả dòng sản phẩm che tủy quan trọng có chứa Canxi hydroxit

 

5. Che tủy quan trọng MTA - Mineral Trioxide Aggregate

 

Mineral Trioxide Aggregate (MTA) đã cuốn hút được sự âu yếm đáng chú ý với tư cách là chất che tủy quan trọng giữa những năm vừa mới đây .

 

MTA Flow Ultradent

 

Che tủy quan trọng MTA là gì

 

MTA cơ bản là oxit canxi ở dạng tricalcium silicate, dicalcium silicate và tricalcium aluminat.

 

Oxit bitmut được thêm vào để tăng mức độ phóng xạ. MTA được coi là xi măng silicat hơn là hỗn hợp oxit, & do đấy tính tương hợp sinh học của chính nó là do những dòng sản phẩm phản ứng của nó .

 

Điều hấp dẫn là dòng sản phẩm phản ứng chính của MTA với nước là canxi hydroxit, và vì như thế nó thực sự là sự biến thành của calci hydroxit cung ứng khả năng tương thích sinh học của MTA.

 

tác dụng của MTA

 

do đó , nhiều ưu điểm và chế độ vận động tiềm năng của MTA cũng như canxi hydroxit, bao gồm:

 

  • Đặc tính kháng khuẩn
  • Tương hợp sinh học
  • Độ pH cao, độ phóng xạ & khả năng bổ trợ giải phóng các protein nền ngà hoạt tính sinh học.

 

có một số khác hoàn toàn giữa MTA và canxi hydroxit. Trước nhất , MTA có hai màu là trắng & xám. Bản màu xám là bởi vì bổ sung sắt.

 

Một sự biệt lập đáng chú ý khác là MTA hỗ trợ trong số những chất làm bí mật cho kết cấu răng.

 

điểm yếu kém của MTA

 

cũng có thể có một trong những nhược điểm của MTA. Nó chỉ ra rằng độ hòa tan cao, chứng minh mất 24% sau 78 ngày lưu trữ nội địa. Sự hiện diện của sắt trong công thức MTA màu xám mà thậm chí ảnh hưởng đến màu răng.

 

nhược điểm đáng chú ý của MTA là số giờ đông kéo dài trong suốt thời gian khoảng 2 giờ và 45 phút. Điều đó nhu cầu việc che tủy với MTA hoặc được triển khai theo công đoạn hai bước:

 

Đặt khôi phục tạm bợ để có thể chấp nhận được MTA thiết đặt trước khi đặt phục hình lâu dài hoặc sử dụng quá lớp lót ngay bây giờ để bảo vệ MTA trong khoảng time khôi phục lâu bền hơn .

 

các đặc tính cách xử lý của MTA dạng bột-lỏng rất khác đối với những công thức canxi hydroxit dạng bột nhão nổi trội mà đa số các học viên đều cảm thấy dễ xử trí .

 

lúc đối chiếu với những công thức canxi hydroxit dạng sệt này, MTA rất đắt. Một gam bột MTA có giá tương đương với 24 gam chất xúc tác / nền canxi hydroxit, để cho MTA giá thành cao hơn nhiều cho mỗi đợt sử dụng .

 

các nghiên cứu và phân tích về MTA & canxi hydroxit.

 

Một nghiên cứu và phân tích bình chọn đối chiếu công dụng che tủy quan trọng bên trên động vật của MTA với canxi hydroxit, cho thấy khả năng chữa lành tủy giỏi hơn với MTA.

 

cũng giống như các phân tích đối chiếu khả năng che tủy giữa chất kết dính với canxi hydroxit, kết quả khác hoàn toàn lúc đối chiếu MTA với canxi hydroxit ở người.

 

Bảng 2 chứng minh rằng phần lớn những phân tích bên trên người đều cho thấy tác dụng tương tự về MTA & canxi hydroxit.

 

Bảng 2: công dụng tương tự về MTA & canxi hydroxit.

 

mặc dù vậy , hai giữa những nghiên cứu này chứng minh hiệu quả vượt trội của MTA, và cả hai đều phải có chung một đặc điểm phân tích thú vị: răng che tủy đc phục hồi bằng nguyên liệu ZOE rối loạn đối với tái khôi phục lâu dài cho những công dụng khác.

 

Như đã đàm luận trong phần về ZOE, các nguyên liệu này bị rò rỉ đáng kể và mất đi ngay bây giờ việc giải phóng eugenol kháng khuẩn .

 

vì như thế , các kết quả này mà thậm chí chỉ ra thời gian làm việc của MTA để bịt kín sự giao tiếp của tủy mà canxi hydroxit không có .

 

các phân tích bổ sung trên quý khách MTA làm tác nhân che tủy duy nhất mà không có nhóm đối chứng chỉ ra rằng chiến thắng tốt trong khoảng time từ sáu tháng đến bốn năm.

 

Bảng 2 đối chiếu các công dụng nghiên cứu và phân tích bên trên người của việc che tủy mật thiết bằng Canxi Hydroxit với MTA

 

Bảng 2: Kết quả tương tự về  MTA và canxi hydroxit

 

Bảng 2: đối chiếu về MTA và canxi hydroxit

 

Histo trong bảng 2

 

“Histo” đề cập đến việc nghiên cứu và phân tích mô học có được thực hiện như một phần của bình chọn công dụng hay là không.

 

trên trung tâm những tài liệu cho đến bây giờ , có vẻ như MTA có thể chiến thắng do thực ra là nó đóng như một bể chứa canxi hydroxit và / hoặc thời gian làm việc cung cấp niêm phong ở vị trí tiếp xúc với tủy răng.

 

mặc dù MTA bao bọc kín giỏi hơn canxi hydroxit, nhưng cần để ý rằng nên có Glass Ionomer (GI) hoặc Resin Modifier Glass Ionomer (RMGI) làm lớp lót.

 

Trong trường hợp canxi hydroxit, lớp lót GI / RMGI là quan trọng để bổ trợ một lớp niêm phong chống khuẩn bảo đảm mà 1 mình canxi hydroxit không thể cung cấp .

 

Trong tình huống MTA, lớp lót GI / RMGI là quan trọng để bảo vệ MTA trong khoảng time trám tái khôi phục do số giờ đông của MTA dai dẳng .

 

nếu như không có lớp lót đảm bảo GI / RMGI này, sẽ rất cần được đặt khôi phục rối loạn trong một số giờ cho đến khi MTA đông cứng toàn diện, yêu cầu người mắc bệnh đến cuộc hẹn thứ hai để đc trám hoàn thành .

 

tác dụng của MTA đang trên mức cho phép

 

chắc chắn kết quả của những nghiên cứu che tủy lạm dụng quá MTA là đáng khích lệ . Tuy nhiên , có vẻ như một số có phát ngôn về công dụng của MTA như 1 nhân tố che tủy hoàn hảo không được chứng minh bởi tác dụng nghiên cứu và phân tích.

 

Hai rõ ràng thậm chí giúp hiểu rõ điều ấy . Một phân tích đã đưa ra tuyên bố sau: “Dựa trên tác dụng của nghiên cứu và phân tích hiện tại và các nghiên cứu và phân tích có ảnh hưởng liên quan khác.

 

MTA vượt trội hơn canxi hydroxit trong các công việc che tủy quan trọng do lộ tủy cơ học ở người.” Trong phân tích này, các tủy răng của 14 chiếc răng đã được cố ý biểu hiện , một nửa được che tủy bằng canxi hydroxit và nửa sót lại với MTA. Răng được nhổ ở một, hai, ba, bốn tuần & sáu tháng & được xem về mặt mô học.

 

Đến kỳ bình chọn cuối cùng (sáu tháng), mỗi nhóm chỉ có 1 răng được coi . Có quá ít mẫu vật để nghiên cứu và phân tích hoạch toán. Với những công dụng này, có vẻ như bình chọn về tính ưu việt của MTA là chưa đủ trung tâm .

 

Trong một bài báo khác, những người sáng tác cho biết thêm , “Các tác dụng cho biết thêm MTA là nguyên vật liệu che tủy răng dễ dự đoán hơn so với canxi hydroxit.” Bốn mươi chín chiếc răng đc che tủy quan trọng MTA & được theo dõi trung bình khoảng bốn năm.

 

bình chọn lâm sàng cho thấy sự thắng lợi cụ thể 98% so với răng che tủy. Mặc dù thế , không có phân tích mô học nào đc triển khai để bình chọn triệu chứng sự thật của tình trạng sức khỏe tủy răng.

 

trực tiếp nhất, không có nhóm đối chứng canxi hydroxit nào được đưa vào nghiên cứu và phân tích, và do đó , không thể kết luận rằng MTA là nguyên liệu che tủy dễ dự đoán hơn canxi hydroxit trong bình chọn này.

 

Tóm lại về MTA & Canxi hydroxit

 

Canxi hydroxit có hỗ trợ bất cứ ích lợi nào đối với MTA không? MTA là 1 trong những vật liệu đầy hứa hẹn, nhưng canxi hydroxit cho biết một hồ sơ thắng lợi lâm sàng dài lâu mà MTA không còn cam đoan vào thời điểm hiện tại.

 

bình chọn về 14 nghiên cứu và phân tích lâm sàng, bao gồm hơn 2.300 trường hợp che tủy bằng canxi hydroxit, ghi nhận tỷ lệ thành công lên tới 90% lúc được thực hiện bởi các bác sỹ lâm sàng có thời gian làm việc.

 

Bài báo bình chọn này nêu bật hai chìa khóa chiến thắng trong những việc che tủy trực tiếp bằng canxi hydroxit: giảm bớt che tủy đến răng không có chứng trạng & phục hình bí ẩn sau che tủy răng.

 

chiến thắng của canxi hydroxit trong thí nghiệm đối với MTA

 

mặt khác, canxi hydroxit đã minh chứng chiến thắng về mặt lâm sàng ngay cả lúc được triển khai trong số những tình huống kém lý tưởng.

 

Một phân tích kéo dài ba năm bên trên 44 tủy răng tiếp xúc rất lớn đc bao che bởi canxi hydroxit dẫn đến tỷ lệ thắng lợi là 80 %.

 

Ba mươi bốn chiếc răng giao tiếp do chấn thương đã trải qua thời gian trì hoãn khoảng bốn giờ trước lúc che tủy canxi hydroxit cho biết thêm chiến thắng 97% khi được quan sát và theo dõi trong khoảng time lên tới mức 17 năm.

 

để triển khai sáng tỏ rõ hơn lợi ích tương đối của MTA đối với canxi hydroxit trong các việc che tủy, cần có một thử nghiệm lâm sàng tiềm năng mô hình lớn để so sánh MTA với canxi hydroxit như một vật liệu che tủy mật thiết .

 

NW PRECEDENT, một mạng lưới phân tích dựa trên thực hành đc NIDCR bổ trợ đã tham gia vào một nghiên cứu và phân tích như vậy

 

Như bạn đã thấy hiện thời các hiệu quả thí nghiệm che tủy trực tiếp canxi hydroxit vẫn là hiệu quả cao nhất được nhiều các nha khoa lạm dụng cho khách hàng .​